Wednesday, February 3, 2016

SƠ LƯỢC VỀ CƠ CHẾ PHÒNG VỆ (Phần 2)

Một số cơ chế phòng vệ thường gặp:

-        Bù trừ (Compensation): Bù trừ là tiến trình chúng ta điều chỉnh một phần yếu kém của cơ thể bằng cách phát triển sức mạnh ở những phần khác. Ví dụ: Một người lùn che đậy yếu kém về mặt cơ thể của mình bằng cách học thật giỏi để mọi người chú ý đến yếu tố học giỏi mà không chú ý đến đặc điểm lùn hay một người mù có thể phát triển đặc biệt các năng khiếu thính giác. Ngoài ra còn có cơ chế bù trừ quá mức (overcompensation). Bù trừ quá mức là tiến trình hoán chuyển sự yếu kém thành một sức mạnh. “Các ví dụ điển hình như: Teddy Rososevelt vốn là một đứa trẻ ốm yếu nhưng đã trở thành một nhà thể thao ngoài trời giãi nắng dầm mưa. Demosthenes, một người vốn có tật nói lắp nhưng đã trở thành nhà hùng biện lớn”.
-        Chuyển di/Chuyển dịch (Displacement): Là tiến trình dịch chuyển những cảm xúc (chủ yếu là cảm xúc thù địch, ghét bỏ hoặc là yêu thương) từ một đối tượng này sang một đối tượng khác an toàn hơn. Câu “giận cá chém thớt” mang nội dung ý nghĩa tương tự. Đây là cơ chế thường xảy ra trong tiến trình tham vấn, chính vì thế nhà tham vấn cần phải hiểu rõ cơ chế này để tránh những tổn thương không đáng có cho thân chủ và làm ảnh hưởng không tốt đến tiến trình tham vấn tâm lý. “Cơ chế chuyển dịch có thể xảy ra theo “kiểu phản ứng dây chuyền” (chain-reaction). Ví dụ: Người đàn ông giận dữ với ông chủ của mình nhưng anh ta không thể nói ra được những cảm xúc đó vì thế anh ta về nhà cáu ghắt và đánh vợ, người vợ bực bội lại đánh một trong những đứa con, đứa con tức quá đá con chó”[57]. S.Freud cho rằng, chuyển dịch đóng vai trò quan trọng và góp phần rất lớn cho sự phát triển của nhân loại vì chuyển dịch sẽ dẫn đến cơ chế thăng hoa. Ngoài ra còn có cơ chế phản chuyển dịch. Cơ chế phản chuyển dịch hay còn gọi làchuyển dịch ngược xuất hiện khi thân chủ dịch chuyển cảm xúc sang nhà tham vấn, nhà tham vấn cũng mang những cảm xúc riêng tư của mình nay lại gặp những cảm xúc do thân chủ dịch chuyển sang nhưng không làm chủ được nên đã đẩy những cảm xúc đó về lại phía thân chủ. Vì vậy, nhà tham vấn cần phải kiểm soát và làm chủ hoàn toàn cảm xúc của mình. Trong những trường hợp xảy ra chuyển dịch, tham vấn viên cần phải lắng nghe thân chủ để thân chủ có thể bộc lộ cảm xúc của mình một cách an toàn.
-        Chuyển dạng (Somatization): Chuyển dạng là tiến trình chuyển những lo âu về mặt tâm lý sang những triệu chứng về mặt thực thể. Những triệu chứng thường thấy có thể là: liệt, mù, điếc, câm hay có thể có những cơn co giật, mệt mỏi, đau đầu, căng cơ…Thân chủ thường cảm thấy mình bị đau ở một bộ phận nào đó mà không biết nguyên nhân xuất phát từ đâu, họ luôn rên rỉ, kêu ca, phàn nàn về nó nhưng khi khám về mặt thực thể thì không phát hiện ra bất cứ một loại bệnh nào. Cơ chế này thường được sử dụng hầu hết ở những thân chủ được chẩn đoán là rối loạn cơ thể hoá (Somatization Disorder).
-        Chia thành ngăn (Compartmentalization): “Là tiến trình chủ thể phân chia và chế ngự những ý nghĩ có xung đột với một ý nghĩ khác. Điều này xảy ra khi chúng ta có những niềm tin khác nhau và thậm chí là chúng ta có những xung đột về mặt giá trị. Ví dụ: Một người rất mộ đạo nhưng ông ta còn là một nhà khoa học luôn giữ trong mình những niềm tin đối lập nhau do có sự phân chia về mặt nhận thức khác nhau. Ở nhà thờ, ông có thể hoàn toàn tin vào những điều mê muội nhưng ở phòng thí nghiệm thì ông ta nghi vấn mọi thứ. Hay bà mẹ nói về đứa con của mình: “Ở trường con tôi là thiên thần nhưng ở nhà con tôi là ác quỷ”. Chia thành ngăn là quá trình xây dựng những bức tường để ngăn chặn những xung đột từ bên trong. Trong cuộc sống, tất cả mọi thứ chúng ta đều chia thành những ngăn, điều đó thể hiện rõ ở mỗi nơi chúng ta giao tiếp, hành xử với những giá trị, những tư cách và những cách thức khác nhau”.
-        Dồn nén(Repression): “Dồn nén là tiến trình chủ thể đẩy những ý nghĩ vào cấp độ vô thức và ngăn chặn những những nỗi đau hay những ý nghĩ nguy hiểm quay lại cấp độ ý thức”.
-        Đồng nhất hoá (Identification): Đồng nhất hoá là tiến trình chủ thể tiếp nhận từng phần hay toàn bộ những đặc điểm của người khác. Có thể đồng nhất hoá những đặc điểm bên ngoài như: quần áo và kiểu tóc. Đây là một trong những cơ chế quan trọng được Sigmund Freud đề cập trong học thuyết Phân tâm cổ điển. Theo Sigmund Freud, nhờ cơ chế đồng nhất hoá mà đứa trẻ ở giai đoạn dương vật sẽ vượt qua phức cảm Ơđíp hay phức cảm Electra và cũng nhờ cơ chế này mà đứa trẻ có thể nhập tâm (internalize) những gì mà trẻ cho là tích cực từ những người khác thành những cái của mình. Điều này góp phần rất lớn cho sự phát triển nhân cách của trẻ.



-        Đồng nhất xạ ảnh (Projective Identification):  Đồng nhất xạ ảnh (hay PI) là một cơ chế tâm lý được Melanie Klein giới thiệu trong thuyết Quan hệ với đối tượng (Object relation) vào năm 1946. Đồng nhất xạ ảnh được xem xét như một tiến trình tâm lý khi một người phóng chiếu một ý nghĩ, niềm tin hay cảm xúc đến một người thứ hai. Sau đó, người thứ hai bị thay đổi bởi sự phóng chiếu và bắt đầu có cách cư xử như những gì họ bị phóng chiếu. Đây là tiến trình hầu như xảy ra hoàn toàn ngoài cấp độ ý thức… “Cô ta khiến tôi phải làm điều đó” là khẩu hiệu của cơ chế đồng nhất xạ ảnh.
-        Cắm chốt (Fixation): Cắm chốt là qúa trình chủ thể không muốn dừng những hành vi mang lại cảm giác an toàn và cũng không muốn tiếp nhận những hành vi mới, bởi vì những hành vi mới có thể sẽ không tạo được sự an toàn cần thiết. Theo quan điểm của Freud về sự phát triển nhân cách một cách bình thường xuất hiện thông qua một chuỗi các giai đoạn phát triển về tâm sinh dục. Việc chuyển từ giai đoạn này sang một giai đoạn kế tiếp có mối quan hệ mật thiết với những thất bại và những lo âu. Nếu việc lo âu này ngày càng trở nên nghiêm trọng thì sự phát triển về mặt tâm lý tạm thời dừng lại. Bởi vì cá nhân đó cảm thấy sợ và lo lắng khi chuyển sang giai đoạn kế tiếp.
-        Giảm mục tiêu (Aim inhibition): “Thỉnh thoảng chúng ta có những ước muốn và những mục tiêu mà chúng ta tin và nhận ra rằng chúng ta không thể đạt được. Giảm mục tiêu là chúng ta hạ thấp hơn cái nhìn của chúng ta, giảm mục tiêu thấp xuống đến mức chúng ta có thể đạt được. Giảm mục tiêu có thể bao gồm các yếu tố như hợp lý hoá (rationalization) và chuyển dịch (displacement). Ví dụ một người ham muốn tình dục đối với người khác vì không thể đạt được ham muốn đó vì người đó đã có gia đình, bản thân họ nhận thức rằng họ chỉ muốn là bạn bè của nhau mà thôi. Muốn và không muốn là nguyên nhân dẫn đến sự căng thẳng, giảm mục tiêu sẽ giúp chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng hơn”.
-        Giảm giá trị (Devaluation): Giảm giá trị là quá trình chủ thể quy cho bản thân hay người khác những đặc điểm tiêu cực hay những phẩm chất thấp kém. Điều này được thực hiện để phạt người bị giảm giá trị và làm giảm bớt những tác động và tầm quan trọng của người bị giảm giá trị.
-        Hợp lý hoá (Rationalization): Hợp lý hoá hay còn gọi là giải thích hợp lý. Đây là một trong những cơ chế phòng vệ được Sigmund Freud đề cập đến trong học thuyết Phân tâm cổ điển. Theo Tâm lý học, đây là tiến trình chúng ta đưa ra những lời bào chữa sao cho phù hợp với những quyết định, những hành động hay những sự việc đã xảy ra. Tiến trình này có thể nằm hoàn toàn ở cấp độ ý thức. Tuy nhiên, tiến trình này còn có thể nằm hoàn toàn ở cấp độ tiền ý thức (preconciousness) khi chúng ta đưa ra một lời bào chữa để chống lại những cảm xúc tội lỗi xuất hiện ở bên trong (internal feelings of guilts).
-        Hài hước(Humor):  “Là quá trình chủ thể chỉ tập trung sự chú ý của bản thân vào những khía cạnh hài hước, của vấn đề để giảm bớt lo âu, căng thẳng”.[57] “Hài hước giúp chúng ta bộc lộ được những cảm xúc hay những ý nghĩ bị dồn nén. Chủ đề về hài hước chủ yếu là về: tình dục, đánh nhau và cái chết. Nếu bạn muốn biết điều gì bị dồn nén trong một con người hãy xác định xem anh ta hay chị ta tìm đến sự hài hước về chủ đề gì”.
-        Lý tưởng hoá (Idealization): Lý tưởng hoá là một dạng của phủ nhận, đó là tiến trình chủ thể xem xét mọi việc hiện tại đều tốt đẹp để che giấu cảm xúc tiêu cực vốn có trong quan hệ với những người khác”. Nói cách khác thì “lý tưởng hoá là tiến trình chủ thể đánh giá quá mức những gì mà mình đang ao ước và đánh giá thấp những điểm hạn chế về điều mà mình đang ao ước. Chúng ta còn có khuynh hướng lý tưởng hoá những điều mà chúng ta đã chọn hay những điều chúng ta đã đạt được. Đối lập với lý tưởng hoá là “quỷ dữ hoá” (Demonization), là bất kỳ những gì mà chúng ta không thích, không ao ước thì chúng ta phóng đại những điểm yếu và đó là những điểm để hạ thấp vấn đề. Ví dụ: Một người đã mua một vé đi nghỉ mát ở nước ngoài. Anh ta mơ về những điều tốt đẹp sẽ diễn ra như thế nào trong suốt kỳ nghĩ, nào là ở đó không có côn trùng, không nóng nực và không có trộm cướp. Hay tôi mua một chiếc xe hơi thể thao và tôi thán phục những đường nét bóng mượt và tôi lờ đi một điều rằng chiếc xe tôi mua tốn nhiều nhiên liệu và phần nào tôi cảm thấy không thoải mái.
Lý tưởng hoá cho phép chúng ta củng cố thêm cho những quyết định của chúng ta là thông minh và sáng suốt. Vì thế chúng ta tân bốc những điều tốt mà chúng ta đã lựa chọn và hạ thấp những điều làm giảm đi giá trị của những quyết định đó. Chúng ta thường sử dụng cơ chế lý tưởng hoá để đối phó với những ý nghĩ trái ngược nhau đã làm cho chúng ta đưa ra một quyết định sai. Lý tưởng hoá còn giúp chúng ta cảm thấy tốt hơn khi chú ý đến những điểm mà chúng ta mơ ước”.
-        Sự huỷ hoại (Undoing):  “Sự huỷ hoại là quá trình chủ thể cố gắng phá huỷ một điều không lành mạnh, những điều tiêu cực hay những ý nghĩ khác có thể đe dọa bằng cách ràng buộc trong những hành vi đối lập. Ví dụ: Sau khi nghĩ về việc sẽ hung dữ với người khác nhưng sau đó nghĩ lại thấy người này trước đây tốt bụng một cách quá mức hay sẵn sàng giúp đỡ mình... Một số người dùng sự huỷ hoại để giảm bớt sự mâu thuẩn trong nhận thức, cảm xúc không thoải mái được tạo ra khi một thái độ và một hành động hay cả hai thái độ có sự xung đột với nhau Đây là một trong những cơ chế phòng vệ nổi tiếng do Sigmund Freud phát hiện trong quá trình làm việc của ông, nhiều cơ chế khác sau này được Anna Freud phát triển và mở rộng”.


-        Sự kiềm nén (Suppression): Tiến trình những suy nghĩ ở cấp độ ý thức được đẩy vào cấp độ tiền ý thức.
-        Phủ nhận (Denial): “Cơ chế phủ nhận là tiến trình một người khăng khăng không chấp nhận một sự thật mà sự thật đó có bằng chứng xác thực. Phủ nhận có thể là phủ nhận thực tế tất cả những gì mình không hài lòng (simple denial), hay thừa nhận thực tế nhưng phủ nhận tính nghiêm trọng của nó  (minimisation) hay thừa nhận cả thực tế và tính nghiêm trọng nhưng phủ nhận trách nhiệm (tranference)... 
Lý thuyết về cơ chế phủ nhận được nghiên cứu một cách công phu bởi Anna Freud. Bà đã phân loại phủ nhận như một cơ chế phòng vệ của tâm trí chưa trưởng thành, bởi vì cơ chế này mâu thuẩn với khả năng học hỏi và đương đầu với thực tế của con người. Khi cơ chế phủ nhận xuất hiện ở một tâm trí trưởng thành nó thường liên quan đến cái chết của một ai đó, những người mắc các chứng bệnh nan y hay những người bị cưỡng hiếp.
Trong những nghiên cứu gần đây khái niệm phủ nhận đã có những mở rộng đáng kể về phạm vi và cả tính thiết thực.
Ví dụ như Elisabeth Kubler – Ross đã xem phủ nhận là giai đoạn phản ứng về mặt tâm lý đầu tiên trong năm giai đoạn của những bệnh nhân mắc bệnh nan y sắp chết (1. Phủ nhận, 2. Giận dữ, 3. Trầm cảm, 4. Mặc cả, 5. Chấp nhận) và xa hơn nữa, ý tưởng này đã được mở rộng thành sự phủ nhận của người sống sót trước tin một ai đó chết. Cơ chế phủ nhận rất dễ nhận biết nhưng đây cũng là cơ chế đã gây ra nhiều sự tranh cãi.

Có những loại phủ nhận sau: 

Phủ nhận thực tế (Denial of fact):Loại phủ nhận này xuất hiện khi một người tránh né một sự thật bằng sự lừa dối. Những người sử dụng cơ chế phủ nhận bằng sự lừa dối để tránh né rằng những gì họ nghĩ có thể làm cho họ hoặc cho người khác đau đớn. 

Phủ nhận trách nhiệm (Denial of responsibility): Dạng phủ nhận này có liên quan đến trách nhiệm của một cá nhân trước những khiển trách, giảm đến mức tối thiểu hay bào chữa. 
Phủ nhận tác động (Denial of impact): Dạng phủ nhận này có liên quan đến việc một người tránh suy nghĩ hay tránh hiểu những tổn hại xảy ra có nguyên nhân từ bản thân họ hay từ những người khác. Bởi vì khi làm điều này, họ có thể tránh được những cảm xúc về cảm giác tội lỗi và điều này có thể làm cản trở sự hình thành lòng thương xót hay thấu cảm đối với người khác. Phủ nhận trách nhiệm làm giảm hay loại trừ cảm giác đau đớn hay tổn thương về những quyết định sai lầm. 

Phủ  nhận  nhận  thức (Denial of awareness): Đây là dạng phủ nhận gây ra nhiều sự tranh luận nhất bằng cách tìm kiếm khái niệm về  trạng thái phụ thuộc vào mức độ nhận thức. Người sử dụng loại phủ nhận này sẽ tránh được sự đau đớn hay tổn thương bằng cách đỗ lỗi cho trạng thái nhận thức khác của mình lúc đó. Ví dụ như: say rượu, say thuốc hay có liên quan đến sức khoẻ tâm thần…”.
-        Phản ứng ngược (Reaction Formation/ Reaction conversion): “Phản ứng ngược là quá trình chủ thể dồn nén những suy nghĩ, những cảm xúc khó chịu vào bên trong và thể hiện ra bên ngoài bằng cảm xúc đối lập. Tại sao chúng ta có hành vi này? Sigmund Freud cho rằng, chúng ta sử dụng cơ chế phản ứng ngược để che giấu những cảm xúc thực và chúng ta mong người khác đối xử với chúng ta như những gì chúng ta thể hiện”.[57] Quan sát lâm sàng cho thấy hầu hết thân chủ sử dụng cơ chế này thường không muốn người khác buồn, tổn thương vì vấn đề của họ, nụ cười của họ là biểu hiện rõ nhất. Cơ chế này thường là đặc điểm của rối loạn thần kinh chức năng kiểu ám ảnh. Khi cơ chế này bị lạm dụng quá mức, đặc biệt là trong suốt thời gian hình thành cái Tôi thì điều này có thể trở thành một nét tính cách ổn định của cá nhân. Cơ chế này thường đi kèm với đặc điểm ám ảnh và những rối loạn nhân cách ám ảnh.”
-        Phóng chiếu (Projection): “Phóng chiếu là tiến trình chủ thể gán cho một đối tượng khác những ý nghĩ, những cảm xúc mà bản thân chủ thể không thể chấp nhận hay không muốn. Phóng chiếu có tác dụng làm giảm lo âu, cho phép chủ thể bộc lộ những xung động hay những ước muốn nhưng cái Tôi không nhận ra điều đó”.
 “Đây là cơ chế đối lập với cơ chế đổng nhất hoá (identification). Phóng chiếu bao gồm hai yếu tố: thứ nhất chủ thể sẽ không nhận biết được một đặc điểm về chính bản thân mình. Thứ hai, chủ thể quy cho một người khác có đặc điểm đó. Thay vì nói: “Tôi ghét mẹ tôi” thì cá nhân sử dụng cơ chế phóng chiếu  nói rằng: “Mẹ tôi ghét tôi”. Phóng chiếu là một cơ chế phòng vệ thường hay được sử dụng nhiều nhất, khi đó chủ thể muốn cố gắng nâng cao lòng tự trọng của họ. Một người cố gắng đưa ra những cái nhìn tích cực về bản thân tại cùng lúc đó lại đánh giá thấp những người khác.
-        Phân ly (Dissociation): Phân ly là một trạng thái tâm lý khi những suy nghĩ, cảm xúc, những cảm giác hay những kí ức được phân tách ra thành những phần khác nhau của tinh thần. Với nghĩa này thỉnh thoảng phân ly được xem như “sự tách đôi”(splitting). Nhà Tâm thần học người Pháp Pierre Janet (1861-1947) đã đề cập đến dạng cơ chế này trong cuốn sách L’ Automatisme Psycholoique, ông nhấn mạnh vai trò của nó như là sự phản ứng phòng vệ với những tổn thương về mặt tâm lý. Mặc dù ông xem xét phân ly là một tác động của cơ chế phòng vệ dẫn đến sự rút lui về mặt tâm lý của một cá nhân trước những sự kiện tràn ngập những tổn thương, tuy nhiên ông còn nâng phân ly lên thành một bệnh về tâm lý. Sổ tay thống kê và chẩn đoán rút gọn các rối loạn tâm thần của Hội tâm thần học Hoa Kỳ, xuất bản lần thứ 4 (DSM-IV) xem xét những triệu chứng như: mất nhân cách, tri giác sai thực tại và những chứng quên bắt nguồn từ tâm lý có thể trở thành những dấu hiệu chính của Rối loạn phân ly (Dissociation Disorder)… Phân ly được xem là một đặc điểm lâm sàng mới trong những năm gần đây và được xem là yếu tố đi kèm với rối loạn Stress sau chấn thương và những nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ này. Cơ chế phân ly rất giống với cơ chế chia thành ngăn (compartmentalization).


-        Tách đôi  (Splitting):  “Là quá trình chủ thể nhìn nhận sự việc hay con người ở thế giới bên ngoài theo chiều hướng “tất cả đều tốt đẹp” hay “tất cả đều  xấu”hoặc  thấy cuộc đời này toàn màu hồng hay cuộc đời này toàn màu đen”.
-        Tưởng tượng (Fantasy): Là quá trình chủ thể cố gắng điều khiển những vấn đề không thể đạt được ở thế giới thực bằng cách mơ mộng hay giải quyết vấn đề trong một thế giới ảo.
-        Thăng hoa (Sublimation): Freud cho rằng thăng hoa là qúa trình chủ thể chuyển những xung động mang tính bản năng không thoả mãn trực tiếp hay không được xã hội chấp nhận sang những hoạt động được xã hội chấp nhận hay đề cao. Theo S. Freud thì năng lượng tính dục không được thoả mãn khi được thăng hoa có thể tạo ra những tác phẩm lớn.
-        Thoái lùi/thoái bộ (Regression): “Thoái lùi/thoái bộ là quá trình chủ thể quay trở lại một giai đọan phát triển trước đó thay vì phải chuyển sang giai đọan tiếp theo. Vấn đề này thường xuất hiện khi một người phải đương đầu với những đe doạ. Trẻ em có thể  trở lại với những hành vi của thời ẵm bồng khi chúng cảm thấy bị đe doạ về sự mất mác tình thương yêu. Người lớn có thể rút lui khỏi những hoạt động tình dục với người khác giới bởi vì họ cảm thấy họ không trưởng thành về mặt tâm lý và rút lui khỏi những hoạt động đó để tránh tình huống gây ra sự lo âu. Thông thường thì điều này dẫn đến quyết định thoái lùi về một giai đoạn phát triển mà trước đây họ đã trải qua. Việc thoái lùi cũng có mức độ nhất định và việc thoái lùi về một giai đoạn phát triển không có nghĩ là thoái lùi hoàn toàn.
-        Trí thức hoá (Intellectualization): “Trí thức hoá là quá trình chủ thể tách cảm xúc của bản thân ra khỏi một vấn đề nào đó và tập trung vào vấn đề đó thay vì là tập trung vào thực tế. Trí thứ hoá bảo vệ bản thân chống lại sự lo âu bằng cách ngăn chặn những cảm xúc có liên quan đến vấn đề mà chúng ta đang đối mặt. Ví dụ: Một người vợ nhận được tin rằng chồng mình sắp chết vì một căn bệnh ung thư. Cô ta có thể học tất cả mọi thứ về căn bệnh này như vấn đề tiên lượng bệnh, điều trị bệnh như thế nào để tìm cách giúp người chồng sắp chết. Điều đó sẽ giúp cô ta ngăn chặn được sự tấn công dữ dội của cảm xúc mất mác, giận dữ từ sự kiện cô ta sắp mất người mà mình thương yêu nhất. Freud cho rằng, trí nhớ có thể tồn tại ở hai cấp độ: ý thức và tiền ý thức. Trí thức hoá có thể cho phép sự phân tích của ý thức có thể chọn lọc những thông tin không gây lo âu về sự kiện đó.
-        Tránh né (Avoidance): Tránh né là quá trình chủ thể tìm những cách để tránh đối mặt với những tình huống, những vấn đề và những hoạt động mang lại cảm giác không thoải mái. Tránh né có thể bao gồm việc chúng ta tránh khỏi những tình huống gây ra sự căng thẳng. Ngoài ra tránh né còn được thể hiện ở việc tránh thảo luận hay thậm chí là tránh suy nghĩ về những chủ đề mà mình muốn tránh né. Ví dụ: Tôi không thích những người khác tại công sở. Tôi tránh việc đi ngang qua bàn của họ, khi mọi người nói về họ tôi không nói gì. Tránh né là cách đơn giản để đối phó với tình huống mà chúng ta không muốn đương đầu với nó. Khi cảm giác không thoải mái xuất hiện, chúng ta tìm cách tránh việc trải nghiệm chúng. Tránh né là cơ chế phòng vệ thường thấy ở các thân chủ có rối loạn ám sợ (Phobia disoder) ám sợ. Trì hoãn là một dạng của tránh né. Chúng ta hoãn lại ngày mai những gì hôm nay chúng ta tránh né”. Cơ chế tránh né thường được thân chủ sử dụng trong giai đoạn đầu của tiến trình tham vấn vì ở giai đoạn này mối quan hệ giữa tham vấn mới bắt đầu nên có thể thân chủ chưa tin tưởng. Đặc biệt là những vấn đề của thân chủ có liên quan đến yếu tố tình dục thì cơ chế tránh né thường thể hiện khá rõ. Thân chủ sẽ dẫn dắt nhà tham vấn đi lòng vòng bởi những vấn đề khác mà không tập trung vào vấn đề chính cho đến khi nào mối quan hệ tin tưởng được xác lập.
-        Vị tha (Altruism): “Là quá trình chủ thể thoả mãn những nhu cầu bên trong bằng cách giúp đỡ người khác”.
-        Gây hấn thụ động (Passive aggression):  Là quá trình chủ thể thể hiện cảm xúc giận dữ một cách gián tiếp. Gây hấn thụ động thường xảy ra khi một người bị bắt buộc làm điều gì. Họ làm nhưng giận dữ vì họ không thích hay không hài lòng khi làm việc đó, sự giận dữ được thể hiện qua hành vi, cử chỉ hay sự chống đối ngầm với đối tượng. Cơ chế này thường xảy ra trong mối quan hệ giữa cấp dưới và cấp trên trong công việc.
...





Trích lược từ Luận văn của Ths Ngô Minh Duy

SƠ LƯỢC VỀ CƠ CHẾ PHÒNG VỆ (Phần 1)


Khái niệm.

“Khái niệm cơ chế phòng vệ (defense mechanism) lần đầu tiên được Sigmund Freud đề cập đến trong một bài báo có tựa đề “The Neuro-Psychoses of Defense” vào năm 1894 và tiếp sau đó được thảo luận trong bài “Futher Remarks on the Neuro-Psychoses of Defense” vào năm 1896 và bài “The Aetiology of Hysteria”. Lần cuối cùng cụm từ này xuất hiện trong bài báo với tựa đề “Instincts and Their Vicissitude” vào năm 1915, đã có những thay đổi về bản chất và hoàn toàn đối lập với trước đây, thêm vào đó là dồn nén và thăng hoa được xem như là những cơ chế phòng vệ.

Trong các tác phẩm của Sigmund Freud, hai từ “phòng vệ” và “cơ chế phòng vệ” không có sự khác biệt rõ ràng. (Sau này chúng được xem là một tiến trình của vô thức có tác dụng phòng vệ). Theo Sigmund Freud, khái niệm phòng vệ được xem là sự cố gắng của cái Tôi đáp ứng trước những biến đổi của tinh thần như: sự đau đớn, những vấn đề không thể chịu đựng nỗi, hay những điều không thể chấp nhận được. Một giai đoạn sau đó, dường như Sigmund Freud đã quên lãng cụm từ này và thay vào đó là khái niệm về sự “dồn nén”.



 “Sigmund Freud là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ cơ chế phòng vệ vào năm 1894 nhưng ông không phân loại chúng mà chỉ xem cơ chế phòng vệ đơn giản là một hiện tượng của dồn nén. Sau đó, con gái ông là bà Anna Freud đã tiếp tục mở rộng học thuyết của Sigmund Freud vào những năm 1930”.

“Với sự phát triển mạnh của xu hướng Tâm lý học cái Tôi (Ego-Psychology) Anna Freud đã nghiên cứu về chức năng của cái Tôi và bà đã liệt kê và mô tả những cơ chế phòng vệ của cái Tôi. Theo Anna Freud, “mọi sự thăng trầm có khả năng xuất phát từ hoạt động của cái Tôi”.

Anna Freud đã nhận dạng 9 cơ chế phòng vệ gốc đó là:
Thoái lùi (regression),
Dồn nén (repression),
Phản ứng ngược (reaction-formation),
Sự cô lập (isolation),
Sự huỷ hoại (undoing),
Phóng chiếu (projection),
Nội chiếu (introjection),
Sự đổi hướng chống lại bản thân (turning against the self)
Sự đảo lộn (reversal)

Vậy cơ chế phòng vệ là gì?

Giáo trình Sức khỏe tâm thần và tâm lý bệnh học của bác sĩ Lâm Xuân Điền viết “cơ chế phòng vệ là những thao tác của bộ máy tâm trí nhằm giảm thiểu những căng thẳng bên trong. Chúng thường có giá trị che chở sự toàn vẹn của bộ máy tâm lý, nhưng hiệu quả không giống nhau. Chúng cũng dễ bị sự điều hành của các quá trình tiên phát và như vậy có thể gây bệnh và cản trở hoạt động tâm thần”.

Từ điển Tâm lý do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, NXB Ngoại Văn, Trung tâm nghiên cứu Tâm lý trẻ em  Hà Nội, 1991 cho rằng “cơ chế phòng vệ thường là vô thức, chủ thể, nói đúng hơn là cái Tôi vận dụng để gạt bỏ, che dấu, làm dịu đi tình trạng căng thẳng, khó chịu do một ý nghĩ, một ham muốn khó chấp nhận. Trong cuộc sống xã hội, dồn nén là cơ chế phòng vệ chung; Phân tâm học còn phân biệt nhiều cơ chế, như là chuyển di, phóng chiếu, thăng hoa. Khi khám nghiệm hay trị liệu, cần nhận rõ những cơ chế phòng vệ này để giúp đương sự nhận thức ra và nhờ đó giải toả được những mặc cảm sâu kín vì bao giờ một người bị rối loạn tâm lý, đứng trước người khác cũng vận dụng một cơ chế phòng vệ”.

Theo tôi, “cơ chế phòng vệ là một cách để đối phó với lo âu, giảm căng thẳng và phục hồi lại trạng thái thăng bằng cảm xúc của một người. Cơ chế phòng vệ thường xuất hiện ở cấp độ vô thức và có khuynh hướng bóp méo sự thật làm cho chúng ta dễ dàng hơn trong việc đối phó với vấn đề. Con người sử dụng cơ chế phòng vệ như một cách để làm dịu đi lo âu. Khi cơ chế phòng vệ được sử dụng một cách quá mức chúng sẽ cản trở những khả năng của con người. Cơ chế phòng vệ thường được sử dụng riêng lẽ hay kết hợp với một số cơ chế phòng vệ khác. Cơ chế phòng vệ được sử dụng ở những mức độ khác nhau và tuỳ thuộc vào việc chúng phù hợp như thế nào với những nhu cầu của chúng ta.

Cơ sở tâm lý của cơ chế phòng vệ

Một trong những luận điểm quan trọng của Sigmund Freud đó là luận điểm về tảng băng tâm trí (Mental Iceberg).




Freud cho rằng, cấu tạo tâm trí của con người của chúng ta giống như cấu tạo của một tảng băng có 3 phần gồm: ý thức (conciousness), tiền ý thức (preconciousness) và vô thức (unconciousness).

Trong đó ý thức là phần chiếm tỉ lệ rất ít bao gồm những gì mà chúng ta có thể biết được,  tư duy được vào bất cứ lúc nào. Tiền ý thức là phần nằm gần ý thức nhất và có khả năng chuyển lên cấp độ ý thức. Tiền ý thức bao gồm trí nhớ và những kiến thức được lưu trữ thông qua quá trình ghi nhớ. Vô thức là phần chiếm tỉ lệ lớn nhất bao gồm: sự sợ hãi, những ham muốn tình dục không thể chấp nhận được, những động cơ trái với luân thường đạo lý, những ước muốn không hợp lý, những trải nghiệm không tốt…mà chủ thể không ý thức được.

 “Một phép so sánh sau đây có thể giúp bạn đánh giá đúng ảnh hưởng rộng lớn của vô thức. Ban ngày chúng ta không thể thấy được những ngôi sao, chúng ta nói như thể chúng chỉ “mọc ra” vào ban đêm nhưng thực ra chúng vẫn luôn ở đó trên bầu trời. Chúng ta cũng ước lượng quá thấp con số chính xác của các ngôi sao. Chúng ta nhìn lên bầu trời thấy những đám sao lác đác mờ tỏ và cứ tưởng rằng đó là tất cả. Khi đã đi xa khỏi ánh đèn thành phố, chúng ta nhìn thấy bầu trời khảm đầy sao và chúng ta bị ngập chìm trong sự rực rỡ của thiên hà. Nhưng chỉ khi nghiên cứu thiên văn học chúng ta mới biết hết sự thật rằng hàng trăm ngàn ngôi sao chúng ta thấy trong một đêm không trăng và trời trong chỉ là một phần rất nhỏ của số sao trong vũ trụ và rất nhiều những đốm sáng mà chúng ta tưởng là một ngôi sao thực ra là cả một thiên hà. Với vô thức cũng vậy, những suy nghĩ có luận lý và trật tự của tư duy ý thức chỉ là một tấm màng mỏng phủ lên vô thức là khu vực vẫn hoạt động mãnh liệt và có hiệu lực trong mọi lúc mọi nơi”

Theo Freud, hoà lẫn vào ba phần trong tâm trí của tảng băng tâm trí còn có sự hiện diện của ba yếu tố không thể thiếu đó là: cái Ấy (The Id), cái Tôi (The Ego) và cái Siêu Tôi (The Supper Ego).

Dưới cái nhìn của học thuyết Phân tâm cổ điển thì một em bé mới sinh chỉ có cái Ấy. Trong đó, cái Ấy bao gồm tất cả những gì thuộc về bản năng của con người, chúng tồn tại ở cấp độ vô thức và chi phối hành vi. Cái Ấy có chức năng là duy trì cơ thể sống trong trạng thái thoải mái và hoạt  động  theo “nguyên lý khoái lạc”  nên nó đòi hỏi đem lại sự thoả mãn ngay lập tức. Vì vậy mà cái Ấy được xem như là “đứa con hư của nhân cách”. 

Cái Tôi được phát triển thông qua sự tương tác với môi trường, tồn tại chủ yếu ở cấp độ ý thức và một phần của vô thức. Cái Tôi vận hành theo “nguyên lý thực tế” và cố gắng kiềm chế sự đòi hỏi tự phát của cái Ấy và sự đòi hỏi nghiêm ngặt của cái Siêu Tôi. Có thể ví cái Tôi như một  ông quan toà “cầm cân nảy mực” thực hiện “quyền hành pháp” đối với nhân cách của mỗi cá nhân.

Cái Siêu Tôi là những qui định về đạo đức, pháp luật… thông qua sự giáo dục của cha mẹ, thầy cô…và xã hội. Cái Siêu Tôi được hình thành thông qua quá trình thưởng và phạt. Nó tồn tại ở cả 3 cấp độ nhưng chủ yếu là vô thức. Cái Siêu Tôi luôn hướng đến sự hoàn hảo và  lý tưởng. Bản chất của cái Siêu Tôi là: lương tâm và cái Tôi lý tưởng. Freud nói về cái Tôi, cái Ấy và cái Siêu Tôi như 3 anh chàng be bé nhưng một anh thì đam mê và hư hỏng, một anh có lý trí và anh cuối cùng thì có đạo đức. Ba anh chàng be bé này thường xuyên bóp cổ nhau. Sự xung đột giữa cái Ấy và cái Siêu Tôi xảy ra nhưng cái Tôi không làm tròn vai trò của mình dẫn đến lo âu.

Một luận điểm quan trọng thứ hai của Sigmund Freud không thể không nhắc đến đó là các giai đoạn phát triển tâm sinh lý tính dục (psychosexual stages of development). Theo Freud, mọi đứa trẻ đều trải qua 5 giai đoạn phát triển tâm sinh lý tính dục. Đó là những giai đoạn: môi miệng, hậu môn, dương vật, ẩn tàng và giai đoạn sinh dục.

1. Giai đoạn môi miệng: kéo dài từ sơ sinh đến 1,5 tuổi. Ở giai đoạn này, khoái cảm mà đứa trẻ nhận được chủ yếu tập trung ở vùng miệng: môi, lưỡi… thông qua các hoạt động: bú, mút, nhai, nuốt, cắn. Quan sát những đứa trẻ này chúng ta có thể thấy chúng mút ngón tay, đầu chăn hay một số đồ chơi mềm. Đứa trẻ còn cảm nhận được sự hẫng hụt và lo hãi.

2. Giai đoạn hậu môn: kéo dài từ 1,5 - 3 tuổi. Khoái cảm mà đứa trẻ nhận được ở giai đoạn này tập trung chủ yếu ở vùng hậu môn. Quan sát những đứa trẻ ở giai đoạn này chúng ta sẽ thấy rằng sau khi đi tiêu chúng có hành vi nghịch với phân. Kiểm soát hoạt động đi vệ sinh quá nghiêm ngặt hoặc quá sớm sẽ phát sinh sự lo hãi ở trẻ, trẻ có thể có hiện tượng táo bón hay đi đại tiện vào những giờ không phù hợp.

3. Giai đoạn dương vật: Kéo dài từ 3 tuổi đến 6 tuổi. Ở giai đoạn này đứa trẻ nhận được khoái cảm thông qua sự tự kích thích vào cơ quan sinh dục của mình. Lo hãi bị thiến, sự ghen tị về dương vật và tiêu biểu nhất là phức cảm Ơđíp/Electra xuất hiện. Phức cảm Ơđíp có liên quan đến mong muốn gắn bó với mẹ chúng và thủ tiêu người cha của đứa bé trai. Phức cảm Electra  thì có liên quan đến ước muốn gắn bó với bố và thủ tiêu mẹ của đứa bé gái.

4. Giai đoạn ẩn tàng: Kéo dài từ 6-12 tuổi. Giai đoạn này tương đối êm ả. Trẻ quên đi các xung năng tính dục và thay vào đó là các hoạt động học tập và vui chơi. Trẻ thu hái những kỹ năng nhận thức và những giá trị văn hoá trong quá trình giao tiếp với các đối tượng khác như: bạn bè cùng trang lứa, thầy cô giáo, hàng xóm…

5. Giai đoạn sinh dục: Từ 12 tuổi đến trưởng thành. Xung năng tính dục bị dồn nén tái xuất hiện mãnh liệt do những biến đổi ở tuổi dậy thì. Đối tượng hướng đến của trẻ lúc này là một người cùng trang lứa khác giới. Tình dục lúc này mang tính sinh học là sinh sản và bảo tồn nòi giống. Tình yêu cũng trở nên vị tha hơn, trẻ ít quan tâm đến khoái cảm của cá nhân hơn các giai đoạn trước.

Freud cho rằng, việc xung đột giữa cái Ấy và cái Siêu Tôi xảy ra nhưng cái Tôi không làm tốt nhiệm vụ của mình hay khi bị người lớn kiểm soát hoạt động mút tay, việc đi vệ sinh quá nghiêm ngặt… qua các giai đoạn phát triển tâm sinh lý tính dục, việc chia tách trẻ ra khỏi mẹ và những sang chấn khác… sẽ làm nảy sinh lo âu.

Chức năng của lo âu là cảnh báo với chúng ta rằng nếu như tiếp tục có những hành vi như thế nữa thì sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm. Theo Freud, giữa lo âu và những cơ chế phòng vệ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ông cho rằng, “con người có xu hướng giảm sự căng thẳng để giảm cảm xúc lo âu. Lo âu là trạng thái khó chịu ở bên trong và khi đó thì con người tìm kiếm sự tránh né hay tìm cách thoát khỏi những lo âu đó. Con người tìm kiếm những cách để giảm lo âu thông qua các cơ chế phòng vệ.

Những cơ chế phòng vệ có thể có lợi cho sức khoẻ về mặt tâm lý hay đó là sự thích nghi không tốt nhưng cả hai đều vì một mục đích là giảm sự căng thẳng…Freud đã chia sự lo âu ra làm ba loại chính:

Lo âu thực tế (Reality Anxiety): Đây là dạng cơ bản nhất, có nguồn gốc từ những vấn đề trong thực tế. Như sợ chó cắn, sợ một sự cố nào đó sắp xảy ra. Phương pháp làm giảm lo âu thường được sử dụng là tránh những tình huống có thể ảnh hưởng không tốt đến bản thân.
Lo âu loạn thần kinh chức năng (Neurotic Anxiety): Lo âu nảy sinh từ một nỗi sợ vô thức do những xung năng tính dục của cái Ấy sẽ nắm quyền kiểm soát. Dạng lo âu này là hệ quả của việc sợ hãi sẽ bị phạt vì đã bộc lộ những ham muốn của cái Ấy không thích hợp.
Lo âu lương tâm (Moral Anxiety): Là kết quả từ những sợ hãi việc làm trái với lương tâm hay chuẩn mực đạo đức của xã hội. Lo âu lương tâm xuất hiện khi chúng ta cảm thấy tội lỗi hay hổ thẹn.
Một khi một trong số các loại lo âu trên xuất hiện, tâm trí chúng ta sẽ phản ứng theo hai cách. Cách thứ nhất là chúng ta nỗ lực hơn nữa để giải quyết vấn đề. Cách thứ hai là phát sinh ra cơ chế phòng vệ. Cơ chế phòng vệ là những cách mà cái Tôi xây dựng để đối phó với cái Ấy và cái Siêu Tôi.

Tất cả các cơ chế phòng vệ đều có hai đặc tính: Chúng có thể hoạt động ở cấp độ vô thức. Chúng có thể bóp méo sự thật, làm biến đổi hay làm sai lệch sự thật. Việc thay đổi nhận thức thực tế cho phép chúng ta giảm thiểu sự lo âu, giảm những căng thẳng về mặt tâm lý”.



Trích lược từ Luận văn của Ths Ngô Minh Duy

Sunday, January 31, 2016

BẢN NGÃ GIẢ TẠO NHẰM CHE DẤU VẾT THƯƠNG LÒNG

Mỗi người chúng ta khi mới sinh ra tâm thức còn rất gần với sự minh triết và nhờ có năng lực tinh thần đó giúp tạo ra tình cảm an toàn và đầy kinh ngạc thán phục. 

Trong quá trình trưởng thành thì mối liên hệ giửa ta với tâm thức dần dần mờ nhạt và thay thế vào đó là sự bảo vệ một cách an toàn của bố mẹ hoặc bà con họ hàng. Họ dạy bảo cho ta biết về cái thiện, cái ác, cái tốt, cái xấu, về cách phải quyết định, hành động và phản ứng như thế nào cho mỗi hoàn cảnh cụ thể.

Rồi mối liên hệ với tâm thức được nới lỏng và dần dần mất hẳn, và tâm thần trẻ thơ của chúng ta cố gắng một cách vô vọng thay thế cái minh triết nguyên thủy bẩm sinh bằng bản ngã hoạt động. Khốn thay các tiếng nói của bố mẹ dù ở bề mặt hay trong nội tâm đều là chưa đủ, đó chỉ là phần bề mặt bên trên chưa đủ thay thế tâm thức và vì vậy người ta phải tạo ra một bản ngã giả tạo.

Cái bản ngã giả tạo là sự cố gắng đầu tiên của chúng ta để dựng lại tâm thức của ta. Ta dùng phương cách ấy để diễn tả rằng “ta là như thế”. Chúng ta mang một bản ngã giả tạo để làm vừa lòng thiên hạ, để họ chấp nhận và đem lại an toàn cho ta. Với bản ngã giả tạo, ta cố gắng dựng nên mối quan hệ với người khác bởi vì đó là việc “phải” làm, nhưng cố gắng đó không có tầm sâu. Bởi vì nó phủ nhận bản chất thực của nhân cách, nỗi sợ hãi và các tình cảm tiêu cực của chúng ta.

Mặc dù chúng ta cố gắng để tạo cho được bản ngã giả tạo nhưng cuối cùng vẫn thất bại vì nó không thể đem lại cảm nhận an toàn chân thật trong nội tâm mà ta hằng mong tìm kiếm.

Thực ra, nó làm nảy sinh trong ta cái cảm tưởng lừa bịp, bởi vì chúng ta cố gắng biểu hiện một lòng tốt thường trực trong khi nó thực sự chỉ có ở từng lúc lẻ tẻ. Cảm nhận sự giả dối đó càng làm tăng nổi sợ của chúng ta. Và chúng ta liền tăng gấp đôi sự cố gắng để tuân theo tiếng nói của bố mẹ trong nội tâm một cách vô ích. Sợ hãi lại càng tăng hơn, trước một sự đánh cuộc không thể thắng, tạo ra thực sự một vòng xoắn, một cảm giác của lừa bịp và sợ hãi. Nó từ chối vai trò của khổ đau và giận dữ vì nó phủ nhận chân ngã đích thực. Bản ngã giả tạo muốn bảo vệ chủ thể khỏi chịu trách nhiệm về hành vi hoặc tư tưởng xấu của mình.



Đối với bản ngã giả tạo, khổ đau và giận dữ không phải là thành phần của chân ngã và do đó ta chẳng có trách nhiệm gì, bản ngã giả tạo vẫn ở đó để bảo vệ con người bằng cách vứt bỏ trách nhiệm về mọi cử chỉ, ý nghĩ và hành động tiêu cực. Đó chỉ là một sự giả tạo và cự tuyệt. Nó từ chối vai trò người che dấu nỗi đau và giận dữ, bởi vì nó phủ nhận sự tồn tại nội tâm của nhân cách.

Đối với bản ngã giả tạo của chúng ta, nỗi đau và giận dữ chỉ tồn tại ở ngoài nhân cách. Chúng ta không có trách nhiệm gì. Mọi nhân tố tiêu cực là lỗi của người khác, chúng ta chê trách họ đồng thời trút lên họ sự giận dữ và nỗi đau.

Cách duy nhất để “duy trì” sự giả dối này là chúng ta không ngừng “tự giới thiệu mình là người tốt”. Trong thâm tâm, chúng ta khó lòng chiụ đựng được cái áp lực thường xuyên mà ta tự đặt cho mình. Chúng ta thử cuộc chơi, nếu không thành công ta phải chứng minh làm sao là mình đúng và người khác sai.

Chúng ta “khó chấp nhận” cách sống phải tuân theo các quy định của người khác: Đó là một nhiệm vụ rất to lớn, chúng ta thích hành động theo bản năng. Sự mệt nhọc rồi giận dữ đến với chúng ta, mặc kệ chúng ta xổ ra những lời phàn nàn và lên án chúng ta làm việc xấu. Năng lượng để giữ cái bản ngã giả tạo rồi sẽ đánh (tác động) vào người khác và cả các điều này chúng ta cũng phủ nhận vì chúng ta cần được an toàn bằng bất gì giá nào và bằng cách chứng minh ta là người tốt. Chúng ta hoán chuyển năng lượng xấu của ta sang người khác, ta nói hắn “thiển cận, nông cạn…” đó là lối thoát ra của lời nói nhằm làm cho nhẹ nhõm, một sự an ủi, có một cái gì đó làm ta thích thú khi ta trút cái tiêu cực sang người khác. Người ta gọi đó là “sự thích thú tiêu cực” được sinh ra từ “cái ngã thấp hèn”.

NIỀM VUI TIÊU CỰC VÀ BẢN NGÃ THẤP HÈN
Bạn hãy giữ lại cái kỷ niệm về sự vui sướng khi cảm nhận được lúc mà bạn thực hiện một hành động tiêu cực. Vả lại, mọi hành động đều cần năng lượng tích cực hay tiêu cực, và là cái nguồn của vui sướng vì nó giải phóng một năng lượng được tích tụ từ bên trong ta.

Lúc năng lượng đầu tiên được giải phóng dù bạn có cảm nhận đau đớn, thì bao giờ theo sau đó cũng là vui sướng, bởi vì đồng thời với đau đớn năng lượng sáng tạo được giải phóng, điều này luôn là cảm giác dễ chịu.

“Niềm vui tiêu cực” bắt nguồn từ “cái ngã thấp hèn” của ta, cái phần bản ngã mà đã từ lâu ta quên hẳn. Đó là một thành phần trong toàn bộ tâm thần của ta được nảy sinh trong quá trình sống tiêu cực, xa lìa mọi người từ đó tạo nên hệ quả là nó phản ứng lại.

Cái ngã thấp hèn của chúng ta không phủ nhận tiêu cực mà còn thích thú và tìm kiếm nó. Cái ngã thấp hèn đó còn lương thiện hơn cái bản ngã giả tạo, nó bảo vệ những ý định tiêu cực và không hướng về một đức tính tốt vì nó không thực hiện được. Nó hành động công khai một cách ích kỷ như muốn nói: “Tôi lo cho tôi chứ không phải lo cho anh”.

Đó là hậu quả của lối sống cô lập, ích kỷ cá nhân. Nó luôn tìm kiếm những niềm vui tiêu cực. Không phải nó không biết có đau đớn trong nhân cách, bởi vì dự hướng của bản ngã thấp hèn là sống cô lập, hành động theo sở thích và chẳng bao giờ cảm thấy đau khổ.

HÃY HƯỚNG VỀ BẢN NGÃ CAO THƯỢNG
Chắc chắn rằng trong quá trình phát triển, toàn bộ tư tưởng tình cảm của ta không hoàn toàn tách khỏi tâm thức tốt lành ban đầu. Vẫn còn sót lại một thành phần trong sáng dễ thương không thể nào mất được. Đó chính là thành phần được nối kết với ánh hào quang siêu nhiên mà thiên nhiên ban cho mỗi người chúng ta. Thành phần này rất khôn ngoan, yêu mến mọi người và can đảm, rất gần với quyền năng của vũ trụ, nhờ đó mà ta hưởng được nhiều sự tốt lành may mắn trong đời sống. Đó là phần bản ngã làm cho ta không thể bị vong thân được.



Mỗi lúc có hoà bình, vui sướng sự hoàn thành nhiệm vụ cuộc đời chúng ta thì đó là biểu hiện của cái cao thượng của ta theo nguyên lý sáng tạo.

Khi bạn tự hỏi cái ý nghĩa: ”Ta đích thực là ai?” hay “Cái ngã đích thực là ai?”, thì chính lúc đó bạn có câu trả lời vì đó là biểu hiện của bản chất đích thực của bạn. Bạn hãy biết rằng cái mặt tiêu cực của cuộc đời bạn không thể là cái biểu hiện cái không phải là bạn.

Bản ngã cao thượng hướng đến chân lý, cảm thông, kính trọng biểu lộ được con người thật của bạn và hoà nhập với vũ trụ.

Sự khác nhau căn bản giữa “cái ngã cao thượng”, “cái ngã thấp hèn” và “bản ngã giả tạo” chính là ở ý định thầm kín của mỗi người và tính chất của năng lượng xuất phát từ ý định đó.

Hầu như đa số hành động của con người tùy thuộc vào ý nghĩa khác nhau của chúng. Lời nói của chúng ta xuất phát từ ba nguồn gốc: bản ngã cao thượng, bản ngã thấp hèn, hoặc bản ngã giả tạo và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

Khi bản ngã cao thượng thực sự muốn nói: “Chúng ta là bạn bè thân thiện”, thì bản ngã giả tạo lại nói: “Chúng ta là bạn khi mà tôi là người tốt và anh đừng nghi ngờ cái ảo ảnh nầy”, trong khi bản ngã thấp hèn lại nói: “Chúng ta là bạn bè thân thiện vì tôi muốn thế. Sau đó hãy thận trọng, tôi đối xử tốt với anh là nhằm vào điều tôi mong đạt được và để tránh những tổn thất. Nếu anh lấn sân hoặc cản đường tôi, tôi sẽ loại trừ anh!”.
(Trong trường hợp này có ý nghĩa là: Mọi biện pháp đều tốt để nhằm ngăn chặn đối thủ hoặc bằng sự im lặng, sự tranh luận, việc sử dụng sức mạnh và thậm chí cả bạo lực).

Kinh nghiệm bản thân đã dạy tôi biết rằng sự mất cân bằng thường xuyên là do hệ thống bảo vệ quen thuộc hàng ngày tác động lên trường năng lượng của ta là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến khổ đau và bệnh tật trong con người chúng ta.

Đến phần mô tả về trường năng lượng của con người, chúng ta sẽ hiểu rõ vì lý do nào hệ thống bảo vệ hàng ngày của ta bị mất cân bằng và dẫn đến sự rối loạn chức năng của các trường năng lượng, rồi lần lượt bệnh tật có điều kiện bộc khởi trong cơ thể chúng ta. Các sơ đồ bảo vệ xuất hiện trong các trường như một hệ thống bảo vệ năng lượng, sự mất cân đối trong hệ thống bảo vệ hàng ngày của ta được xem như là một hệ thống luôn được cần đến cho bản ngã giả tạo.

Cũng vì hệ thống bảo vệ này mà chúng ta càng vùi sâu vào nỗi đau và sự giận dữ đồng thời chúng ta càng khép kín tình cảm tốt đẹp của ta. Nỗi buồn phiền sinh ra, đời sống trở nên nhàm chán, làm ta thất vọng và lần lần dẫn đến thất bại.

Chúng ta rơi vào vòng lẩn quẩn quen thuộc, không có khả năng tạo dựng những gì chúng ta mong muốn trong cuộc đời. Thân xác cũng bị đau đớn, chúng ta bắt đầu mất lòng tin vào cuộc sống. Khi ta tìm cách chôn vùi nổi khổ đau cũng là lúc ta chôn vùi cái nhân tâm thức tốt lành ban đầu của ta. Chúng ta quên mình là ai và hoàn toàn đánh mất bản chất của sự sống. Chúng ta không còn liên hệ với các năng lượng chủ yếu tạo nên đời sống cho ta nữa…

Kết luận: Bảo vệ hoặc phủ nhận vết thương lòng chỉ càng làm tăng thêm nổi khổ đau. Bản ngã giả tạo càng làm biến dạng các hành động bật ra từ tâm thức thì chúng ta càng dùng lời chê trách để chứng minh hành động của ta là đúng.

Chúng ta càng phủ nhận cái ngã thấp hèn bao nhiêu thì chúng ta càng làm suy yếu đi khả năng của ta bấy nhiêu. Càng cự tuyệt lại nguồn năng lực sáng tạo của tâm thức, ta càng cảm thấy nỗi khổ đau và bất lực nặng nề thêm. Cái vòng lẩn quẩn này ngày càng lớn lên, thì nỗi khổ đau hay còn gọi là vết thương lòng càng trầm trọng hơn.

Nỗi khổ đau này nặng nề đến nỗi làm cho ta khiếp sợ và sẵn sàng vái lạy tứ phương để cầu được che chở. Rồi sau đó trí tưởng tượng của ta biến nó thành nỗi dằn dặt bức xúc. Ta càng muốn tránh xa nó, vết thương lòng càng bị chôn vùi và vượt qua tầm kiểm soát của chúng ta.

Với kinh nghiệm của một chuyên gia Cảm xạ, chúng tôi tin chắc rằng trong khi tìm cách tách xa nỗi đau trong lòng bằng hình thức bảo vệ quen thuộc hàng ngày, vô tình chúng ta càng đưa vào cuộc đời và cơ thể mình thêm khổ đau dằn dặt và bệnh tật ngày càng trầm trọng hơn.

Chuyên gia Cảm xạ Dư Quang Châu

VÔ THỨC


Theo quan điểm của FREUD, nhà sáng lập Phân Tâm Học, Nội tâm bao gồm ba thành tố hay là ba cơ cấu tổ chức, khác biệt nhau, nhưng có những liên hệ mật thiết với nhau và thường xuyên tác động qua lại hai chiều trên nhau.

Cấu trúc thứ nhất là Tự Ngã,

Cấu trúc thứ hai là Siêu Ngã,

Cấu trúc thứ ba là Bản Ngã.

1.-TỰ NGÃ

Cấu trúc Tự Ngã còn mang tên là « Cái Ấy » (le Ça trong tiếng Pháp và The Id trong tiếng Anh). Cấu trúc nầy thành hình và xuất hiện rất sớm, trước hai cấu trúc kia. Xét về phương diện thứ tự thời gian, cấu trúc Tự Ngã đã có mặt, khi đứa bé đang còn là một thai sinh, trong lòng mẹ.

Nội dung của Tự Ngã bao gồm nhiều Xung Năng (Pulsion trong tiếng Pháp, hay là Urge và Drive trong tiếng Anh).

Để hiểu rõ một phần nào xung năng là gì, trong đời sống của một đứa bé sơ sinh, chúng ta cần phân biệt những yếu tố sau đây:

Thứ nhất, xung năng là những sức ép hay là sức đẩy bật hướng đến sự sống, hoàn toàn tự nhiên và phản xạ, phát xuất từ những tầng sâu trong cơ thể của đứa bé. Khi đạt tới cao điểm, trong những chu kỳ và nhịp độ biến chuyển, xung năng sẽ tạo nên cho đứa bé, một tình trạng bực bội, khó chịu, căng thẳng... thúc ép nó đi tìm một đối tượng ở bên ngoài, để được giải tỏa, khai phóng và thỏa mãn.

Thứ hai, trong những năm đầu tiên của cuộc sống, đứa bé còn ở trong tình trạng hoàn toàn vô thức và lệ thuộc. Các em chưa thể nhận biết xung năng của mình là gì, bắt nguồn từ đâu, hướng đến mục đích gì, đối tượng nào có thể đáp ứng và thỏa mãn. Các em chưa thể nào tự mình giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Các em chưa có khả năng dùng lời nói, để giải thích cho kẻ khác biết các em đang cảm nghiệm thế nào và đang có những nhu cầu như thế nào.

Thứ ba, nhằm bộc lộ ra ngoài một cách khách quan, tình trạng bức xúc đang xảy ra trong nội tâm, các em chỉ có một số hành vi rất hạn chế như: khóc la, thét gào, vùng vẫy tay chân, thay đổi sắc mặt...

Thứ bốn, lúc ban đầu duy người mẹ - hay là người thay thế mẹ - có mặt liên tục, suốt ngày đêm với đứa bé, mới có thể từ từ ý thức được nhu cầu của đứa bé và tìm cách đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu ấy. Chính vì lý do nầy, người mẹ được gọi là « đối tượng đầu tiên, nguyên thủy » của đứa bé mới sinh, trước tất cả mọi đối tượng khác. Đồng thời, người mẹ cũng đang đảm nhiệm vai trò « làm Siêu Ngã » cho đứa con.

Thứ năm, trong ba năm đầu tiên của cuộc sống, nếu đứa bé không có mẹ và không có ai liên tục thay thế mẹ, trong vòng từ ba đến sáu tháng, em ấy sẽ phải chết, hay là trầm mình trong bệnh hoạn. Thể theo lối nhìn của Bác sĩ R. SPITZ, hội chứng « Thiếu Tình Thương » (carence affective hay là hospitalisme), đã bẻ gãy và vùi dập, trong đứa bé, mọi xung năng phát xuất từ sự sống và hướng đến sự sống (1). Nói cách khác, trước kia xung năng là một sức đẩy bật hướng đến sự sống. Bây giờ, vì sự sống không được đón nhận và nhìn nhận, xung năng đã đi vào con đường tàn lụi, hướng đến sự chết. Đó là Xung năng hướng đến sự chết. Lối nói được sử dụng trong tiếng Pháp là « pulsion de mort ».




2.- SIÊU NGà

Khi quan sát từ ngoài một đứa bé sơ sinh, trong những tháng ngày đầu tiên, chúng ta sẽ ý thức được thế nào là Tự Ngã, ở thể trạng thuần đơn, trước khi tiếp thu và hội nhập ảnh hưởng của hai cấu trúc kia là Siêu Ngã và Bản Ngã. Cuộc sống thường ngày, lúc bấy giờ, được phân chia thành 5 hoặc 6 chu kỳ. Mỗi chu kỳ bao gồm sáu giai đoạn tiếp nối nhau:

- Giai đoạn một: Giấc ngủ thâm sâu và bình lặng.

- Giai đọan hai: Giấc ngủ náo hoạt.

- Giai đoạn ba: Giai đoạn chuyển tiếp giữa ngủ và thức.

- Giai đoạn bốn: Tỉnh thức hoạt bát nhưng bình lặng.

- Giai đọan năm: Tỉnh thức náo động.

- Giai đoạn sáu: khóc la inh ỏi, trước khi trở lại giai đoạn một.

Một cách đặc biệt, vào giai đoạn Tỉnh thức hoạt bát và bình lặng (giai đoạn bốn), sau ngày sinh độ một tuần lễ, đứa bé đã bắt đầu vận dụng một cách năng động năm giác quan của mình, nhất là thị, thính và xúc giác.

Người lớn, nhất là bà mẹ, dựa vào ba giác quan chính yếu nầy, có thể kích thích đứa bé và trao đổi với em, miễn là bà biết tôn trọng một cách nghiêm chỉnh hai loại ngưỡng kích thích: không bao giờ ở dưới ngưỡng sơ khởi, không bao giờ vượt quá ngưỡng chịu đựng, còn được gọi là ngưỡng khổ đau.

Khi yếu tố kích thích ở dưới ngưỡng sơ khởi, đứa bé không phản ứng, không trả lời. Khi bà mẹ vượt quá ngưỡng chịu đựng của đứa con, tự khắc em sẽ có những phản ứng từ chối như khóc la, thét gào, rút lui, khép kín mình, ngoảnh mặt qua chỗ khác, múa động chân tay...

Trong cuốn sách « Quan Hệ Mẹ Con: bài học đầu tiên của cuộc sống », xuất bản năm 2000 (2), tôi đã trình bày và giới thiệu một số động tác cụ thể, mà bà mẹ hay là những người lớn trong gia đình có thể thực hiện, một cách dễ dàng, để tổ chức cuộc sống cho đứa bé sơ sinh, từ những ngày em mới sinh ra.

Khi tổ chức như vậy, người mẹ và những ai đang tiếp tay cho bà mẹ, đã bắt đầu đảm nhiệm « vai trò làm Siêu Ngã », nghĩa là từ từ chuyển biến Tự Ngã của đứa bé thành Bản Ngã, bằng cách cung ứng từ ngoài những khuôn khổ, những qui luật cũng như những đường hướng hoạt động.

Không có cái KHUNG « tạo an toàn » nầy, để đứa bé có thể nương tựa, qui chiếu và ngày ngày điều hướng cuộc đời, em sẽ suốt đời bơ vơ, loạn động, không có khả năng lớn lên, tăng trưởng, phát triển và trở nên người.

Sau nhiều năm quan sát, nghiên cứu, học hỏi... tác giả T.B. BRAZELTON đã đưa ra những điểm mốc sau đây (3):

- Chung quanh 3 tuổi, trẻ em cảm thấy rất quan trọng tất cả những gì mà em tự mình có thể làm ra,

- Khi trẻ em lên tới 5 tuổi, em sẽ cảm nghiệm chính con người của mình là « trung tâm » và « trọng tâm » của vũ trụ. Tất cả những điều còn lại đều là phụ thuộc, xoay vần chung quanh trung tâm ấy để phục vụ,

- Từ 6-7 tuổi trở lên, trẻ em bắt đầu có khả năng hướng mình ra bên ngoài, để học tập, tiếp thu những bài học về THỰC TẾ, và QUI LUẬT. Đây là yếu tố quyết định, cho cuộc sống thành người. Hẳn thực, bao lâu chúng ta chưa ý thức một cách rõ rệt về những khả năng và giới hạn cụ thể của mình, nghĩa là biết những gì mình làm được và những gì mình không có phép làm, chúng ta chưa thể TỰ LẬP và TRƯỞNG THÀNH, mặc dù tuổi đời đã vượt quá 20.

Để có thể thực thi và kiện toàn tiến trình xây dựng bản thân nầy, một đứa bé từ ngày sinh ra, cần bàn tay tổ chức và giúp đỡ của những người lớn trong gia đình, bắt đầu từ bà mẹ, là nhân vật gần gũi với em, hơn tất cả những người khác. Theo thuật ngữ của Phân Tâm Học, các vị ấy đang đóng vai trò làm Siêu Ngã cho đứa bé, trong suốt tiến trình học làm người.


Vai trò làm Siêu Ngã bao gồm hai chức năng trọng yếu:

- Thứ nhất là soi sáng và hướng dẫn đứa bé về tất cả những gì em có thể làm hay là không thể làm. Đó là nguyên tắc thực tế (Réalité trong tiếng Pháp).

- Thứ hai là nâng đỡ, động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, để em có thể từng bước đi lên, chấp nhận những bài học về qui luật làm người, một cách dễ dàng và hứng thú. Đó là nguyên tắc vui thích (Plaisir).

Thực ra, theo lối nhìn của Freud, thực tế và vui thích là hai bộ mặt khác nhau của một nguyên tắc duy nhất, trong cuộc sống làm người. Để trẻ em có thể tiếp thu và hội nhập một cách nhuần nhuyễn một bài học, trong bất kỳ lãnh vực nào, bài học ấy phải tạo vui thích và gây hứng thú cho trẻ em. Bằng không, em sẽ khước từ hay là bỏ cuộc giữa chừng. Đồng thời, bài học ấy phải tạo nên cho em một kỹ năng tinh nhuệ, khả dĩ giúp em sống tự lập sau này. Khoa Tâm Lý Sư Phạm càng ngày càng lắng nghe, tiếp thu và ứng dụng tin tức nầy, trong hai lãnh vực giáo dục và trị liệu.

Ngôn ngữ là một minh họa có khả năng giúp chúng ta hiểu rõ về mối liên hệ mật thiết giữa hai bộ mặt của nguyên tắc vui thích và thực tế. Sở dĩ trẻ em học nói huyên thuyên suốt ngày, vì em thích bắt chước người mà em thương mến. Đồng thời, nhờ biết nói, em có thể hiểu người khác và làm cho kẻ khác hiểu mình, trong mọi quan hệ tiếp xúc và trao đổi bình thường hằng ngày.

Tuy nhiên, không phải bất cứ bà mẹ nào, khi sinh con ra, đều có khả năng làm Siêu Ngã, với những chuẩn mực quân bình và lành mạnh, như Freud đã đề xuất, nghĩa là hướng dẫn, soi sáng, thay vì áp đặt, cưỡng bức, ức chế, từ trên và từ ngoài. Thêm vào đó, để có thể hướng dẫn một cách hài hòa và hữu hiệu, bà mẹ phải học quan sát, lắng nghe đứa con của mình và tìm cách tiếp xúc, trao đổi với em. Những gì em đã bắt đầu làm được, bà mẹ sẽ khuyến khích em làm một mình, theo tốc độ của em. Không làm thay làm thế. Không bao che từ đầu chí cuối.

Có dịp quan sát cách làm của nhiều bà mẹ đem con đến khám tại phòng mạch của mình, Bác sĩ Phân Tâm D.W.WINNICOTT đã ghi nhận nhiều cách can thiệp khác nhau của các bà, sau khi họ nghe đứa con của mình khóc la, và đang có một vấn đề cần giải quyết (4).

Loại thứ nhất: bà mẹ trả lời quá sớm, trước khi đứa con có thì giờ cảm nhận hay là mơ tưởng, bằng một hình ảnh, vấn đề hiện tại của mình.

Loại thứ hai: bà mẹ trả lời quá chậm, sau khi đứa con thét gào và tỏ ra mệt mỏi, kiệt quệ, « đầu hàng », bỏ cuộc, vì không có ai lắng nghe, một cách đúng lúc và đúng tầm.

Loại thứ ba: cách thức bà mẹ trả lời không thích hợp với nhu cầu thực sự của đứa con. Ví dụ: đứa con bị ướt tã, khó chịu. Người mẹ lấy bình sữa ra, cho con bú.

Loại thứ bốn: bà mẹ trả lời theo nguyên tắc cố định, không tìm hiểu nhu cầu thực sự của đứa con nằm ở chỗ nào. Ví dụ: bây giờ là 4 giờ chiều. Theo ý của bà, bé khóc vì đòi cữ sữa thông lệ, đương khi nhu cầu thực sự của bé lúc ây là muốn đi ra chơi bên ngoài.

Loại thứ năm: bà mẹ trả lời, theo lối giải thích hoàn toàn tùy tiện và chủ quan, trước khi tìm cách kiểm chứng giả thuyết của mình. Ví dụ: theo ý của bà mẹ, bé khóc ghen, vì mẹ nói chuyện với bác sĩ... đương khi lý do thực sự là bé sợ người lạ mặt.


Lẽ đương nhiên, như trên đây tôi đã đưa ra nhận xét, vì thân phận và điều kiện làm người, không một bà mẹ nào, ngay từ ngày đầu tiên, khi đứa con sinh ra, đã biết làm Siêu Ngã, một cách hoàn hảo và tuyệt vời. Sai lầm là lẽ thường tình, tự nhiên. Điều cốt yếu là bà mẹ biết học. Biết dừng lại, khi thấy mình sai lầm. Biết lắng nghe, tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm và kỹ năng tinh nhuệ, trong lãnh vực nuôi dạy con cái. Và điều tôi muốn nhấn mạnh, trước tất cả mọi điều khác, là: Bà mẹ hãy HỌC với đứa con của mình. Chính thái độ và tác phong của em sẽ giúp chúng ta điều chỉnh những gì đã sai lệch, kiện toàn những gì đã tốt đẹp, bổ túc những gì còn thiếu sót. Và khi đứa con đã biết nói, chúng ta hãy tiếp xúc, trao đổi, lắng nghe, tìm hiểu, tạo cho em một khung gian diễn tả, bộc lộ nhu cầu của mình.

Với những điều kiện hành xử như vậy, khó khăn nào cũng có thể vượt qua. Thất bại hay là lầm lỡ nào cũng có thể trở thành một bài học hay là một kinh nghiệm quí hóa, trong vai trò làm Siêu Ngã hướng dẫn và giúp đỡ con cái thành người.

Hẳn thực, khi đứa con bắt đầu tỏ thái độ phản kháng, chống đối hay là bị động, lệ thuộc, chúng ta cần lập tức nêu ra câu hỏi: phải chăng tôi đang thao tác một loại Siêu Ngã quá độc tài và nguyên tắc hay là quá bao che và nương chìu, khi không cần thiết.

Trong thuật ngữ « Siêu Ngã », được Freud sử dụng, (Sur-moi trong tiếng Pháp và Super-ego trong tiếng Anh), hai từ được ghép lại với nhau. Từ thứ nhất là « Siêu », có nghĩa là « ở trên », về mặt ý thức và hiểu biết. Nói cách khác, để có thể soi sáng và hướng dẫn đứa con của mình, người mẹ cần có một lối nhìn bao quát, toàn diện, nghĩa là nhận ra những liên hệ mật thiết giữa những tầng lớp khác nhau trong nội tâm của đứa con. Ngoài ra, bà còn phải thấy được ảnh hưởng của nhiều yếu tố có mặt trong môi trường đang tác động, bằng cách nầy hay cách khác, trên cơ thể non yếu của bé.

Từ thứ hai là Ngã, nghĩa là người mẹ đã hành xử như một chủ thể, có khả năng làm chủ bản thân và cuộc sống của mình. Cho nên, bà có khả năng « đồng cảm » với đứa con. Hiểu biết em từ bên trong. Khám phá hay là phát hiện được những nhu cầu và nguyện vọng của em, mặc dù em chưa có điều kiện và phương tiện diễn tả những tình trạng nội tâm, và nhất là những xúc động buồn lo, tức giận, sợ hãi...

Những nhà Phân Tâm, thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba sau Freud, sẽ sử dụng thuật ngữ « Bản Ngã Trợ Tá », (le moi auxiliaire), để xác định vai trò của người mẹ, đối với đứa con của mình, ít nhất trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc sống. Hẳn thực, khi người mẹ làm « Bản Ngã Trợ Tá », bà đang tạo ra cho đứa con những điều kiện thuận lợi, để đứa con từ từ trở nên một Bản Ngả tự lập. Bà mẹ là một tấm gương soi, trong đó đứa con nhận thấy con đường đi tới của mình. Ngày ngày, bà là người « bắc nhịp cầu », hay là người « làm trung gian », để đứa con có thể rời bỏ bến bờ lệ thuộc và từ từ đi qua bến bờ tự lập và hiểu biết.

Thông thường, người mẹ đảm nhận công việc nầy, với tất cả vốn liếng tự nhiên và trực giác có sẵn của mình. Trái lại, những nhà Tâm Lý Trị Liệu đặc trách về các trẻ em có những rối loạn tiếp xúc hay là những hội chứng Tự Kỷ « Autisme » (sống bít kín, không hòa nhập với bạn bè cùng trang lứa), cần kinh qua hơn bốn năm học, với nhiều lý thuyết chuyên môn và thực tập, mới có khả năng làm « Bản Ngã Trợ Tá » cho những loại trẻ em nầy. Họ tìm cách « đồng hóa » với trẻ em, nhằm giúp trẻ em từ từ « ngoại hiện », nghĩa là « phóng ra ngoài » những xung năng đang bị ứ đọng và kềm kẹp, ở bên trong nội tâm. Nhờ đó, trẻ em mới có cơ may khám phá và thực tập đời sống tiếp xúc và trao đổi với những trẻ em khác cùng lứa tuổi.

Tôi cố tình nêu lên một vài nhận xét chuyên môn như vậy, để nhấn mạnh rằng: Bắc nhịp cầu trung gian hay là làm Siêu Ngã « đứng đắn và lành mạnh », để giúp kẻ khác trở thành người, trong những quan hệ tiếp xúc hằng ngày là trách nhiệm, mà mỗi người trong chúng ta cần phát huy và học tập, để phục vụ anh chị em đồng bào. Đó là một cách « dựng Nước và giữ Nước », chưa được chúng ta lưu tâm, một cách thiết thực và nghiêm chỉnh.

3.- BẢN NGÃ (le Moi hay là the Ego) 

Từ ngày sinh ra cho đến lúc lìa đời, học làm người là một tiến trình không bao giờ có dứt điểm. Tuy nhiên, gần như ở khắp nơi, trên mặt địa cầu, xã hội thường ấn định hai điểm mốc quan trọng: 7 tuổi là tuổi biết suy luận và phân biệt điều nào tốt nên làm, điều nào xấu phải tránh. Chung quanh hai mươi tuổi là điểm mốc thứ hai. Từ đây, mỗi người bước vào tuổi trưởng thành, phải đảm nhận trách nhiệm, trước mặt xã hội, về tất cả những hành vi của mình.


Thế nhưng, trong thực tế, ai đã thực sự làm người trưởng thành ? Ai có thể khẳng định rằng: tôi đã trở thành một Bản Ngã, tôi đã biết mình tôi là ai, cần làm gì, có những giá trị nào. Một cách đặc biệt, những người đã chọn lựa cho mình một lý tưởng, trong tinh thần « hoàn toàn tự do và sáng suốt », phải chăng họ đã nắm vững mọi đường đi nẻo về của mình, trong lòng cuộc đời ?

Trước một thách đố lớn lao tình cờ xảy ra, ngoài mọi dự tính, tất cả chúng ta đều có nguy cơ « bị dao động, mất quân bình ». Lúc bấy giờ, chúng ta lại phải tìm cách trả lời những câu hỏi cơ bản:

- Tôi là ai ?

- Phải chăng tôi có những khả năng cần thiết, để đương đầu với những vấn đề đang xảy đến cho tôi ?

- Phải chăng tôi vẫn còn là con người có giá trị ?

- Phải chăng tôi luôn luôn là con người được yêu thương và tôn trọng, trong những quan hệ với bạn bè, người thân và những ai quen biết ?

- Trong hoàn cảnh cụ thể hiện tại, tôi phải làm điều gì ? Điều nào là ưu tiên số một, cần được tôi thực thi, không trì hoãn ?

Trong những năm được cha mẹ nuôi nấng, dạy dỗ trong gia đình, và suốt những tháng ngày được thầy cô và bao nhiêu người khác giáo dục, tại trường học và ngoài xã hội, phải chăng tôi đã được trang bị, một cách đầy đủ và kỹ lưỡng, để tiếp tục hiên ngang và can trường làm người, làm bản ngã ?

Cha mẹ tôi đã qua đời từ lâu, các thầy cô đã ra đi, khi nhiệm vụ hoàn tất... nhưng những « khuôn khổ », những bài học làm người, mà tôi đã tiếp thu và hội nhập với các vị, phải chăng đang còn là những vốn liếng sống động, quí báu có khả năng giúp tôi vượt qua những chặng đường gian truân ?

Nói một cách vắn gọn, phải chăng « cách họ dạy », hay là « cách họ làm Siêu Ngã » đang còn là động cơ thiết thực và hữu hiệu, ngày ngày thúc giục tôi HỌC làm bản ngã ? Ngày ngày làm kim chỉ nam, hướng dẫn tôi, trong chiều hướng học làm người ?

Sau khi QUÊN MẤT tất cả, tôi vẫn còn NHỚ được cái gì ? Điều nào đang luôn luôn sinh động cho tôi, với tôi và trong tôi, trên suốt con đường làm người, hay là làm bản ngã ?

Câu trả lời của tôi - bắt nguồn từ những bài học của Phân Tâm Học - bao gồm ba chiều hướng trọng yếu:

- Thứ nhất, làm bản ngả là BIẾT« đồng hành và chia sẻ » với bao nhiêu người khác đang chung sống hai bên cạnh. Sống làm người là một cuộc hành trình với nhiều bạn bè. Không ai là một cô đảo cô đơn, cô độc.

- Thứ hai, làm bản ngã là BIẾT « hướng dẫn và nâng đỡ » những người đang cần đến chúng ta, trong vấn đề vật chất, cũng như trên bình diện tinh thần. Ai ai trong chúng ta cũng đã thừa kế một gia tài. Đến lượt, chúng ta có trách nhiệm truyền lại gia tài ấy, cho người đến sau.

- Thứ ba, làm bản ngã là BIẾT « sống hạnh phúc » và « tạo hạnh phúc cho kẻ khác », với tất cả những vốn liếng sẵn có trong tầm tay của mình, không đứng núi nầy trông núi nọ, không chờ đợi có đủ mọi điều kiện, rồi mới bắt tay vào làm. Tạo hạnh phúc như vậy cũng là một cách « đồng hành và chia sẻ » với anh chị em đồng bào, đồng loại. Không một ai trong chúng ta là người hoàn toàn « vô sản ». Chúng ta đang có rất nhiều điều, để chia sẻ với người khác: một ánh mắt, một nụ cười, một lời yêu thương, một vành tai biết lắng nghe, một con tim « đồng cảm »...Sống hạnh phúc còn có nghĩa là « biết hóa giải hay là chuyển biến những khổ đau » thành vật liệu xây dựng bản thân và cuộc đời.

Để có thể biết vận dụng ba con đường làm người trên đây, chúng ta không thể không HỌC. Học mỗi ngày. Học với mọi người. Học ăn, học nói, học gói, học mở.

***

Cách HỌC, vừa được nêu ra trên đây, theo lối nhìn của FREUD là không ngừng chuyển biến Vô thức thành Ý thức, biến điều chưa biết thành điều biết. Khi không biết hay là chưa biết, tôi sẵn sàng đặt ra câu hỏi và yêu cầu kẻ khác trả lời. Trái lại, khi nói về chính mình, tôi cần phân biệt một cách rõ ràng và chính xác điều nào thuộc về thực tế và thực tại của tôi, điều nào chỉ là giả định, suy đoán hay là thuộc về xu thế tổng quát hóa mà thôi.

Những điều tôi vừa đề xuất, xem ra có vẽ đơn sơ, hiển nhiên, thuộc khả năng bình thường của mỗi người, trong mọi tình huống tiếp xúc và trao đổi hằng ngày giữa người với người. Trong thực tế cụ thể, những cách làm ấy đòi hỏi một mức độ ý thức rất thành khẩn và bén nhạy, kết quả của bao nhiêu ngày tháng học hỏi, thực tập và tôi luyện. Chính vì những cách làm ấy chưa được coi trọng đúng tầm, « sau bốn nghìn năm văn hiến », chúng ta vẫn còn chưa « biết học ». Chúng ta chưa rút ra những kinh nghiệm làm người, từ lịch sử đầy máu xương và các câu chuyện Huyền sử. Ngày ngày, chúng ta vẫn còn « sắp hàng thành hai phe Sơn Tinh và Thủy Tinh », trong một chiến trận « nồi da xáo thịt » hay là « gà một nhà bôi mặt đá nhau ». Chúng ta tự hào đã thắng địch thù xâm lăng từ phương Bắc, phương Tây, phương Nam và phương Đông. Nhưng chúng ta đang ngã quị trước tên địch thù đã ăn đời ở kiếp, trong cõi lòng của chúng ta. Tên địch thù ấy là VÔ THỨC, còn mang tên là VÔ MINH trong Tâm Lý Phật Giáo.

GS Nguyễn Văn Thành